Bệnh sởi là bệnh gì?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, thường xuất hiện với các triệu chứng như sốt, ban đỏ trên da, chảy nước mũi, ho và viêm mắt đỏ. Bệnh này có thể ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn nếu họ không có miễn dịch từ trước hoặc chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh. Nếu không được kiểm soát kịp thời, sởi có thể lan rộng và gây ra các đợt dịch bệnh.

Bài viết dưới đây, Phòng khám Health Center xin giải đáp thắc mắc của nhiều người về bệnh sởi là bệnh gì? Xin mời các bạn cùng theo dõi chi tiết!

Bệnh sởi là gì?

Benh soi la benh gi?
Bệnh sởi là bệnh gì?

Sởi do virus Morbilillin gây ra thực sự có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở trẻ em và người lớn không có đủ miễn dịch. Điều này làm tăng nguy cơ bệnh chứng viêm viêm, viêm tai giữa và thậm chí là viêm não.

Điều quan trọng nhất để ngăn chặn việc truyền lan của tiêm tiêm sở hữu để tạo miễn phí dịch. Cùng với việc tăng cường kiến ​​thức và thông tin về khâu xin, chúng ta có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh và bảo vệ cộng đồng khỏi nguy cơ dịch bệnh.

Tại sao bệnh sởi dễ dàng bùng phát trở thành dịch?

Sở hữu khả năng lan truyền rất nhanh và dễ phát hiện thành dịch chủ yếu vì đặc tính lan truyền nhiễm cực kỳ cao của vi rút. Khả năng tồn tại của virus trong môi trường bên ngoài có thể làm việc ngăn chặn sự lây lan trở lại nên khó khăn hơn.

Vi rút có thể tồn tại trên bề mặt và trong không khí trong khoảng thời gian ngắn, lên đến hai giờ, làm tăng nguy cơ lây lan nhiễm trùng đối với những người tiếp xúc với không lây nhiễm bệnh.

Sở hữu khả năng lây lan thông qua các hạt dịch tiết từ đường hô hấp, thở ra hơi thở hoặc thông tin tiếp xúc với các bề mặt bề mặt bị nhiễm virus nhiễm trùng. Điều này tạo ra việc ngăn chặn sự lan truyền của nó trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là vì tôi có thể lan rộng trước cả khi có triệu chứng rõ ràng xuất hiện ở bệnh bạch cầu.

Nguy cơ tử vong do sở hữu đặc biệt cao đối với trẻ em suy dinh dưỡng hoặc trẻ em chưa được tiêm xin, làm việc phòng tiêm và tiêm tiêm xin trở thành biện pháp quan để ngăn chặn sự lan truyền rộng rãi và bảo đảm vệ sức khỏe cộng đồng.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh sởi

Co che benh sinh cua benh soi
Cơ chế bệnh sinh của bệnh sởi

Virus sởi thường xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp. Sau đó, nó nhân lên ở các tế bào biểu mô của đường hô hấp và hạch bạch huyết xung quanh. Khi virus lan vào máu (nhiễm virus máu lần đầu), đây là giai đoạn nung bệnh, khi virus đến các phủ tạng như phổi, gan, hạch và da, gây tổn thương cơ quan và dẫn đến triệu chứng lâm sàng trong giai đoạn toàn phát.

Ban ở da và niêm mạc là cách cơ thể loại bỏ virus sau khi miễn dịch phản ứng. Khoảng từ ngày thứ hai đến thứ ba sau khi mọc ban, cơ thể bắt đầu sản xuất kháng thể. Khi mức kháng thể tăng lên, virus sẽ bị loại khỏi máu, và bệnh chuyển sang giai đoạn lui bệnh.

Trong thời kì này, tổn thương giải phẫu điển hình thường được thấy qua việc xuất hiện các tế bào khổng lồ, gọi là tế bào Hecht. Chúng chứa nhiều nhân và chứa virus, thường được tìm thấy trong các cấu trúc lympho, niêm mạc khí quản, họng, phổi và ống tiêu hóa. Các tế bào này xuất hiện từ ngày thứ 4 đến 5 trước khi mọc ban và tiếp tục trong 3 đến 4 ngày sau khi mọc ban.

Một số nguyên nhân gây ra bệnh sởi

Nguyen nhan gay ra benh soi
Nguyên nhân gây ra bệnh sởi

Nguyên nhân gây ra bệnh sởi chủ yếu do virus Paramyxovirus, nhưng sự lây truyền của bệnh này là vấn đề quan trọng cần quan tâm.

Con đường lây nhiễm chính của bệnh sởi thường diễn ra qua các hình thức sau:

  • Đường hô hấp: Tiếp xúc với các giọt hô hấp, như nước mũi, nước bọt, được phát ra từ người bệnh khi nói chuyện, hắt hơi, ho…
  • Tiếp xúc trực tiếp: Có thể lây truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết của người nhiễm bệnh.
  • Tiếp xúc với vật dụng đã tiếp xúc virus: Virus sởi có thể tồn tại trên các bề mặt vật dụng mà người bệnh đã tiếp xúc.

Thường, virus sởi truyền nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp ban đầu và sau đó lan sang các phần khác của cơ thể qua dòng máu. Virus có thể tồn tại trong chất nhầy của mũi và cổ họng của người nhiễm bệnh trong vòng 4 ngày trước khi phát ban và tiếp tục lây nhiễm trong khoảng 4-5 ngày sau đó. Đây là thời điểm mà virus trở nên rất lây nhiễm, vì vậy việc chăm sóc người bệnh trong giai đoạn này đòi hỏi sự cẩn thận đặc biệt.

Một số triệu chứng của bệnh sởi

Trieu chung cua benh soi
Triệu chứng của bệnh sởi

1. Giai đoạn ủ bệnh: Kéo dài từ 8-11 ngày mà không có triệu chứng rõ ràng.

2. Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Bắt đầu từ khi bắt đầu có sốt đến khi xuất hiện ban, kéo dài 4-5 ngày. Sốt ban đầu nhẹ sau đó tăng lên cao, có các triệu chứng của viêm đường hô hấp, viêm kết mạc mắt, viêm đường tiêu hóa và các dấu hiệu như hạch bạch huyết sưng.

Hội chứng viêm long

  • Viêm đường hô hấp trên
    • Ho, hắt hơi, sổ mũi có thể là những triệu chứng ban đầu của viêm đường hô hấp.
    • Viêm thanh quản cấp có thể xảy ra, đi kèm với ho, khản tiếng, và miệng khô. Thường xuất hiện ban đêm và kéo dài vài giờ rồi tự hết.
  • Viêm kết mạc mắt
    • Chảy nước mắt, sưng phù kết mạc, và mắt kèm nhẫn nhiều dử, đặc biệt là vào buổi sáng khiến bệnh nhân khó mở mắt. Dấu hiệu này còn được gọi là “dấu hiệu Brown Lee”.
  • Viêm đường tiêu hóa
    • Triệu chứng bao gồm ỉa chảy, phân nhiều nước, và có thể có hoa cà hoa cải.

Nội ban ở niêm mạc miệng (hạt Koplik)

  • Hạt Koplik thường xuất hiện từ vài nốt đến vài trăm nốt trên niêm mạc má vùng răng hàm.
  • Các hạt này có hình dạng nhỏ như đầu đinh ghim, màu trắng và thường xuất hiện xung quanh có dấu hiệu xung huyết.
  • Thời gian tồn tại của Hạt Koplik thường chỉ kéo dài từ 24 đến 48 giờ, thường chỉ tồn tại trong ngày thứ 2 của giai đoạn khởi phát của bệnh sởi.
  • Đây là một dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán sớm và xác định chắc chắn bệnh sởi.

Hạch bạch huyết sưng

Triệu chứng thần kinh

  • Sốt co giật
  • Hội chứng màng não

3. Giai đoạn toàn phát (mọc ban): Ban mọc trên da và trong niêm mạc, kéo dài khoảng 6 ngày và sau đó lặn đi theo thứ tự cụ thể. Ban xuất hiện từ đầu xuống chân và từ sau ra trước.

Toàn thân

  • Sốt sẽ giảm dần và các triệu chứng toàn thân cũng sẽ giảm dần và sau đó biến mất hoàn toàn.
  • Trường hợp sốt kéo dài có thể là dấu hiệu của biến chứng.

Ban mọc ở da

  • Ban mọc có những đặc điểm nhất định:
    • Nhỏ, màu hồng, dạng dát sẩn, nổi gồ trên mặt da với vùng da lành giữa các ban.
    • Các ban có cùng lứa tuổi trên cùng một vùng da.
    • Ban có thể rải rác hoặc tụ lại thành từng đám tròn. Ban thường dày nhất ở những vùng có cọ xát hoặc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
  • Trình tự mọc ban thường diễn ra theo quy luật nhất định:
    • Ngày 1: Ban xuất hiện ở da đầu, gần tóc.
    • Ngày 2: Ban lan rộng ra mặt, cổ, vai, làm mặt trở nên sưng húp.
    • Ngày 3: Ban lan xuống ngực và các chi trên.
    • Ngày 4: Ban lan ra toàn thân, bao gồm cả các chi dưới.
  • Ban xuất hiện trong khoảng 6 ngày sau đó sẽ lặn dần theo thứ tự ban đầu xuất hiện.

Nội ban ở niêm mạc đường hô hấp:

  • Gây ra các triệu chứng như ho, cổ họng khó chịu, sổ mũi, và có thể gây viêm phế quản.

Nội ban ở niêm mạc đường tiêu hóa:

  • Gây rối loạn tiêu hóa như chán ăn, nôn mửa, và tiêu chảy.

4. Giai đoạn lui bệnh (ban bay): Ban bắt đầu biến mất vào khoảng ngày thứ 6 tính từ khi xuất hiện và có thể để lại các vết thâm có tróc da mỏng.

  • Ban thường bắt đầu bay vào khoảng ngày thứ 6 từ khi ban xuất hiện ban đầu.
  • Ban thường biến mất theo thứ tự mà chúng xuất hiện, từ đầu xuống chân và từ sau ra trước. Khi ban xuất hiện ở chân, các ban ở đầu thường bắt đầu biến mất trước.
  • Các nốt thâm có thể xuất hiện sau khi ban bay, thường là một loại vảy da mỏng, mịn, tạo thành vằn đa loang lổ, còn được gọi là “vằn da hổ”. Đây là dấu hiệu đặc hiệu giúp truy chẩn đoán bệnh sởi.
  • Bệnh nhân thường bắt đầu phục hồi dần sau khi các ban đã bay và không có biến chứng. Nhiệt độ giảm, đái nhiều hơn, và cảm giác mệt mỏi cũng giảm đi.
  • Bệnh sởi ở người lớn thường nặng hơn ở trẻ em, có thể đi kèm với sốt cao, phát ban rõ rệt và các biến chứng nghiêm trọng hơn.

Biến chứng của bệnh sởi gây nguy hiểm

Bệnh sởi có thể gây ra một loạt các biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ thể khác nhau:

Biến chứng đường hô hấp

  • Viêm thanh quản
    • Giai đoạn sớm: Xuất hiện trong giai đoạn khởi phát và đầu giai đoạn mọc ban, thường là do virus sởi gây ra.
    • Giai đoạn muộn: Xảy ra sau khi các ban sởi đã xuất hiện và thường do bội nhiễm các vi khuẩn khác như tụ cầu, liên cầu, phế cầu… Biểu hiện thường nặng như sốt cao, ho ông ổng, khàn tiếng, khó thở, tím tái.
  • Viêm phế quản
    • Thường xuất hiện vào cuối giai đoạn mọc ban do bội nhiễm vi khuẩn, có thể biểu hiện là sốt lại và tăng cường ho.
  • Viêm phế quản – phổi:
    • Xảy ra sau giai đoạn mọc ban do bội nhiễm vi khuẩn, thường biểu hiện nặng với sốt cao, khó thở. Đây thường là nguyên nhân gây tử vong do sởi, đặc biệt ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh

  • Viêm não – màng não – tủy cấp
    • Đây là biến chứng nghiêm trọng và có thể gây tử vong và di chứng cao.
    • Thường xuất hiện ở trẻ lớn, thường vào tuần đầu của giai đoạn ban (từ ngày 3-6).
    • Biểu hiện khởi phát đột ngột với sốt cao, co giật, rối loạn ý thức như u ám, hôn mê, liệt nửa người hoặc một bên cơ thể, liệt dây thần kinh như dây III, VII (gây liệt mắt hoặc mất khả năng điều chỉnh cơ hội).
  • Viêm màng não
    • Có thể do virus sởi gây ra viêm màng não thanh dịch.
    • Viêm màng não mủ thường do bội nhiễm vi khuẩn sau.
  • Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa:
    • Thường xuất hiện ở tuổi từ 2 đến 20, có thể diễn ra một cách chậm rãi sau vài năm sau khi mắc bệnh sởi.
    • Đây là dạng biến chứng bán cấp với diễn biến kéo dài từ vài tháng đến 1 năm.
    • Bệnh nhân thường chết trong tình trạng cơ thể tăng trương lực và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa

  • Viêm niêm mạc miệng
    • Ban đầu, thường là do virus sởi gây ra và thường đi kèm với các triệu chứng ban.
    • Trường hợp muộn thường liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn sau giai đoạn ban.
  • Cam tẩu mã (noma)
    • Đây là một biến chứng khá nghiêm trọng, xuất hiện muộn sau giai đoạn ban, thường do bội nhiễm của xoắn khuẩn Vincent.
    • Xoắn khuẩn Vincent gây tổn thương lớn, hoại tử niêm mạc miệng, lan rộng vào xương hàm, gây viêm xương, rụng răng và hơi thở hôi thối.
  • Viêm ruột
    • Do bội nhiễm của các vi khuẩn như Shigella, E. coli và có thể có những biểu hiện như tiêu chảy, nôn mửa và rối loạn tiêu hóa.

Biến chứng tai – mũi – họng

  • Viêm mũi họng bội nhiễm: Đây là một biến chứng thông thường, có thể do vi khuẩn hoặc virus bên ngoài tấn công khi hệ thống miễn dịch đang suy giảm do bệnh sởi.
  • Viêm tai – viêm tai xương chũm: Bệnh sởi có thể gây ra viêm tai, thậm chí là viêm tai xương chũm, một biến chứng nghiêm trọng có thể dẫn đến tổn thương xương chũm.

Ngoài ra, bệnh sởi cũng có thể gây ra suy giảm miễn dịch ở cơ thể, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác như lao, bạch hầu, ho gà và các bệnh lây nhiễm khác. Điều này có thể làm cho cơ thể trở nên yếu đuối hơn và dễ bị tác động bởi các vi khuẩn và virus khác.

Phương pháp chẩn đoán bệnh sởi

Chan doan benh soi
Chẩn đoán bệnh sởi

Bệnh Rubella còn được gọi là sởi Đức có một số đặc điểm phân biệt:

  • Sốt nhẹ, viêm phổi nhẹ, và không có dấu hiệu rõ ràng của nhiễm độc.
  • Ban dát sẩn có dạng giống sởi nhưng thường nhỏ hơn, mọc thưa và nhanh chóng, thường xuất hiện từ ngày thứ 1 – 2 của bệnh, không có các hạt Koplick như trong sởi.
  • Hạch sau tai, sưng và có thể gây đau.
  • Xét nghiệm máu thường cho thấy tăng số lượng tế bào bạch cầu (plasmocytes).

Chẩn đoán xác định thường dựa trên phản ứng ngăn ngừa kết hợp cầu.

Còn các bệnh do virus khác như virus Adeno, ECHO, Coxsackie thường có các triệu chứng khác biệt, và cách chẩn đoán chủ yếu dựa vào các biểu hiện lâm sàng cụ thể của từng bệnh.

Ngoài ra, ban dị ứng hoặc ban dị ứng do thuốc, thời tiết hoặc thức ăn cũng có thể gây ra ban toàn thân không theo thứ tự, thường đi kèm với cảm giác ngứa.

Một số cách điều trị bệnh sởi

Phuong phap dieu tri benh soi
Phương pháp điều trị bệnh sởi

Khi đối mặt với bệnh sởi, việc điều trị thường tập trung vào những nguyên tắc cơ bản nhằm hỗ trợ cơ thể đối phó với bệnh tật. Điều quan trọng đầu tiên là không có liệu pháp đặc hiệu cho sởi. Do đó, điều trị chủ yếu là hỗ trợ và nâng cao thể trạng để cơ thể tự đấu tranh chống lại bệnh.

Một nguyên tắc quan trọng khác là cách ly bệnh nhân trong một không gian riêng, đảm bảo phòng có không khí trong lành và tránh tiếp xúc với gió lùa. Việc này giúp ngăn ngừa sự lây lan của bệnh tới người khác.

Ngoài ra, tránh sử dụng corticoid khi chưa chắc chắn về bệnh sởi, nhằm tránh tăng nguy cơ các biến chứng tiêu cực. Việc phát hiện và điều trị sớm các biến chứng từ bệnh sởi cũng rất quan trọng để giảm thiểu tác động xấu đối với sức khỏe của bệnh nhân.

Thuốc điều trị bệnh sởi

Điều trị sốt

Để điều trị các triệu chứng của bệnh sởi, có một số biện pháp cơ bản cần được áp dụng. Đối với việc giảm sốt, phương pháp vật lý như chườm ấm hoặc lau người bằng nước ấm có thể giúp.

Nếu sốt cao hơn 38,5°C, việc sử dụng Paracetamol theo liều lượng cụ thể có thể giúp hạ sốt. Trường hợp sốt không kiểm soát tốt với Paracetamol, có thể kết hợp với Ibuprofen hoặc sử dụng thuốc hạ sốt không steroid. Đối với trẻ có co giật do sốt cao, việc sử dụng thuốc an thần như Diazepam hoặc Midazolam có thể hỗ trợ.

Điều trị viêm long

Để điều trị viêm phổi trong trường hợp bị sởi, việc duy trì vệ sinh cho mắt, mũi và họng rất quan trọng. Bạn có thể sử dụng thuốc nhỏ mắt và mũi như Chloromycetin hoặc Argyrol để giữ cho khu vực này sạch sẽ và giảm viêm. Nếu có triệu chứng ho nhiều, thuốc ho có thể được sử dụng để giúp làm dịu cổ họng và giảm ho.

Điều trị ngứa

Để giảm ngứa, thuốc kháng Histamin như Loratadin hay Telfast thường được sử dụng. Chúng giúp kiểm soát phản ứng cơ thể gây ngứa bằng cách ức chế tác động của histamin – một hợp chất gây kích ứng trong cơ thể.

Bổ sung nước và điện giải

Việc bổ sung nước và điện giải rất quan trọng trong quá trình điều trị sởi, đặc biệt khi có nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải do nôn nhiều. Oresol là một dung dịch điện giải chứa các khoáng chất cần thiết để cân bằng lại mất mát chất lỏng và điện giải trong cơ thể.

Bổ sung vitamin A

  • Trẻ dưới 6 tháng: Uống 50.000 đv/ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ từ 6-12 tháng: Uống 100.000 đv/ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ trên 12 tháng và người trưởng thành: Uống 200.000 đv/ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: Lặp lại liều trên sau 4 – 6 tuần.

Phòng ngừa bệnh sởi

Phòng bệnh đặc hiệu và không đặc hiệu đều cần sự quan tâm đặc biệt để ngăn chặn sự lây lan của bệnh và bảo vệ cộng đồng.

Phòng bệnh không đặc hiệu

  • Cách ly: Người bệnh cần được cách ly cho đến sau khi phát ban 5 ngày. Đeo khẩu trang khi tiếp xúc gần với bệnh nhân. Sau khi chăm sóc bệnh nhân, việc rửa tay sạch và sát trùng đồ dùng, buồng bệnh nhân rất quan trọng để ngăn chặn sự lan truyền của bệnh.
  • Phát hiện sớm: Việc phát hiện và chữa trị kịp thời ở giai đoạn khởi phát có ý nghĩa quan trọng, giúp ngăn chặn việc lây lan ra cộng đồng và giảm nguy cơ biến chứng.

Phòng bệnh đặc hiệu

  • Phòng bệnh đặc hiệu chủ động: Bao gồm việc tiêm vaccine cho trẻ trong độ tuổi tiêm chủng và người chưa được tiêm phòng, đặc biệt là ở những vùng có nguy cơ dịch bệnh cao.
  • Phòng bệnh đặc hiệu thụ động: Gồm việc tiêm phòng γ-globulin miễn dịch (tiêm bắp). Đây là biện pháp dự phòng được áp dụng cho những trường hợp tiếp xúc với sởi.
  • Phòng sau khi tiếp xúc với sởi:
    • Trẻ < 5 tháng không cần tiêm globulin miễn dịch do vẫn còn kháng thể của mẹ truyền.
    • Trẻ từ 5 – 8 tháng cần tiêm globulin miễn dịch.
    • Trẻ 9 tháng:
      • Tiếp xúc < 3 ngày: Tiêm vaccine.
      • Tiếp xúc > 3 ngày: Tiêm globulin miễn dịch ở liều 0,3 ml/kg.

Tài liệu tham khảo

Trên đây là những kiến thức về bệnh sởi mà Phòng khám Health Center cung cấp. Các bạn có thể thăm khám trực tiếp tại Quảng Bình thông qua địa chỉ

  • Trụ sở chính: Thôn Vĩnh Phú Quảng Hòa TX Ba Đồn
  • Hoặc đặt lịch thông qua số điện thoại: 084.502.9815.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *