Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Sóng siêu âm được tạo ra trong vật lý trị liệu của y học hiện đại. Khi nó được đưa vào các cơ quan của cơ thể con người một cách thích hợp. Sóng siêu âm trong vật lý trị liệu sẽ tạo ra các hiệu ứng cơ học, hóa học và nhiệt. Trong các tác dụng chính kể trên, nó có tác dụng bồi bổ cơ thể rất tốt, giúp giảm đau và điều trị bệnh, tăng tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu.

Sóng siêu âm được tạo ra bởi sự rung động của các tinh thể trong một bộ phát siêu âm truyền qua một môi trường giãn nở. Dao động của sóng siêu âm truyền từ đầu máy phát đến bề mặt cơ thể và thâm nhập sâu hơn vào các mô thông qua môi trường tiếp xúc (ví dụ như gel). Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu chủ yếu là làm nóng mô và massage vi mô.

Bài viết dưới đây, Phòng khám Health Center xin giải đáp thắc mắc của nhiều người về tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu. Xin mời các bạn cùng theo dõi chi tiết!

1. Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu là gì?

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu là gì?
Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu là gì?

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Siêu âm trong vật lý trị liệu là phương pháp kích thích các mô tế bào dưới bề mặt da bằng sóng âm có mức tần số từ 800.000 Hz đến 2.000.000 Hz. Đây là dải tần mà con người không thể nghe được phát ra âm thanh, sóng siêu âm trị liệu đi sâu vào cơ thể, kích thích các tế bào và mô giúp giảm đau, giãn cơ, thư giãn thần kinh…

Sóng âm được tạo ra do sự lan truyền các dao động trong môi trường đàn hồi dưới dạng sóng. Những âm có tần số từ 16 đến 20.000 Hz mà tai người nghe được gọi là âm. Âm có tần số dưới 16 Hz mà tai người không nghe được gọi là hạ âm. Âm thanh có tần số trên 20.000 Hz mà tai người không nghe được gọi là siêu âm.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Một dòng điện xoay chiều tần số cao được đưa vào tinh thể trong đầu dò của thiết bị siêu âm. Dưới tác động của dòng điện xoay chiều, các tinh thể giãn nở theo. Khi tinh thể nở ra, nó sẽ nén chất đó lại, nhưng khi nó co lại, nó sẽ pha loãng chất đó. Sự thay đổi này tạo thành sóng siêu âm. Đây là nguyên lý cấu tạo của thiết bị siêu âm trị liệu. Với thiết bị siêu âm chẩn đoán cần gắn thêm các phụ kiện để khuếch đại dòng điện và tạo tín hiệu trên màn hình.

Hiệu ứng hóa học – Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Trong giai đoạn mở rộng, các lỗ nhỏ do siêu âm tạo ra chỉ tồn tại trong môi trường trong một thời gian rất ngắn. Việc giảm và tăng áp suất tại mỗi điểm xảy ra trong nửa chu kỳ dao động. Trong pha áp suất, các lỗ trống bị phá vỡ do áp suất cao, các phân tử trong môi trường lúc đó chuyển động nhanh, xảy ra quá trình va chạm, ma sát khiến các phân tử có thể bị kích thích hoặc bị ion hóa.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Hiện tượng này làm tăng tốc các phản ứng sinh học và tăng quá trình trao đổi chất của cơ thể. Ngoài ra, nó có thể tạo thành các ion gốc tự do như O2- (superoxide anion), OH- (hydroxyl), 1O2 (oxy đơn bội)… Các ion và gốc tự do hoạt động mạnh tương tác với các chất của cơ thể sống. Chẳng hạn như: Tế bào, lipid màng, protein, enzyme, axit nucleic… Làm biến tính và vô hiệu hóa các phân tử quan trọng này.

Hiệu ứng nhiệt

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Các phần tử trong môi trường dao động dưới tác dụng của sóng siêu âm, cơ năng chuyển thành nhiệt năng do cơ chế làm tăng ma sát. Hiệu ứng nhiệt phụ thuộc vào cường độ và thời gian hoạt động của sóng siêu âm. Cường độ dưới 1 W/cm2 thường chỉ gây ra tác dụng sinh học tích cực trên các mô sống.

Tăng tốc tế bào chất của tế bào làm tăng các quá trình sinh học bình thường. Siêu âm liên tục 1,5 W/cm2 sau 5 phút cho thấy mô mềm to ra 3,30C, bao khớp to ra 6,30C, và xương to ra 9,30C. Ở biên giới của các tổ chức với các giá trị phản ánh tiêu cực khác nhau, nhiệt độ tăng lên rất nhiều.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Nhiệt độ mô tăng dẫn đến tăng các quá trình sinh học, chẳng hạn như tăng phản ứng sinh học, tăng tốc quá trình trao đổi chất và dinh dưỡng… Siêu âm liên tục làm tăng nhiệt độ nhiều hơn siêu âm xung, điều này cần được tính đến khi điều trị các cơ quan như vậy. như khớp, xương. vùng gần da nên dùng sóng siêu âm xung.

Hiệu ứng sinh học

Từ các tác dụng cơ học, sinh nhiệt gây ra một số tác dụng sinh học tạo ra tác dụng siêu âm điều trị:

  • Do tăng nhiệt độ làm tăng tuần hoàn máu và dinh dưỡng, tăng tính thấm của mạch máu
  • Thư giãn cơ bắp do tác động cơ học trực tiếp của siêu âm lên các thụ thể thần kinh
  • Tăng tính thấm của màng tế bào
  • Kích thích tái tạo mô
  • Giảm đau do tác động trực tiếp lên các thụ thể thần kinh

Hiệu ứng tạo lỗ

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Do bước sóng siêu âm rất ngắn nên có những vùng bị nén và giãn mạnh. Trong nước và cơ thể sống, do áp suất dao động, nếu cường độ sóng siêu âm đủ cao, liên kết của các hạt bị đứt, tạo ra các lỗ trống. Hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng tạo lỗ siêu âm.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Nếu nguồn siêu âm có cùng cường độ có bước sóng ngắn hơn (tần số càng cao) thì hiệu ứng tạo lỗ càng mạnh. Hiệu ứng lỗ gây ra sự phá hủy cấu trúc. Trong y học, tác dụng này được dùng để làm dao siêu âm hoặc để mài thủy tinh thể trong phẫu thuật phaco.

Hiệu ứng cơ học – Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Hiệu ứng cơ học - Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu
Hiệu ứng cơ học – Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Tác dụng chủ yếu của sóng siêu âm đối với cơ thể là tác dụng cơ học, vì trong môi trường sóng siêu âm truyền tới, các phần tử của môi trường dao động tạo thành pha nén và giãn. Sự rung động của các hạt và sự thay đổi áp suất tạo ra hiện tượng “micromassage”. Chùm siêu âm tần số cao hơn (3MHz) gây ra sự thay đổi áp suất nhanh hơn tần số thấp hơn (1MHz). Sự thay đổi áp suất này gây ra:

  • Thay đổi thể tích tế bào.
  • Thay đổi tính thấm của màng tế bào.
  • Tăng chuyển hóa tế bào cơ bản
  • Hiệu ứng cơ học phụ thuộc vào cường độ của sóng siêu âm (W/cm2) và chế độ: liên tục hoặc xung.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Sự khác biệt với ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm tim, siêu âm mạch máu, v.v., là bước sóng phát ra từ sóng siêu âm đủ thấp để tái tạo hình ảnh. Trong vật lý trị liệu, sóng siêu âm có cường độ siêu âm đủ lớn để gây ra các tác động vật lý và sinh lý lên các mô cơ thể ở mức độ đã được nghiên cứu kỹ lưỡng.

2. Ứng dụng từ tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Ứng dụng từ tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu
Ứng dụng từ tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Sóng siêu âm có công suất 0,1-3W/cm2 được ứng dụng trong vật lý trị liệu. Khi đập vào tổ chức, chúng gây ra 3 tác dụng: tác dụng cơ, tác dụng hóa học và tác dụng nhiệt. Trong các tác dụng chính kể trên, sóng siêu âm có các tác dụng sau:

  • Tăng nhiệt độ nhằm thúc đẩy tuần hoàn máu cục bộ. Từ đó, tăng tính thấm của mạch máu và mô.
  • Giãn cơ do sóng siêu âm kích thích trực tiếp các thụ thể thần kinh.
  • Tăng tính thấm màng tế bào, tăng khuếch tán và thấm qua màng do tăng dao động hạt và thay đổi áp suất khác nhau giữa các vùng trong tổ chức. Vì vậy siêu âm làm tăng hấp thu dịch phù nề, tăng chuyển hóa, tăng dinh dưỡng và tái tạo mô.
  • Giảm đau do tác động trực tiếp lên các thụ thể thần kinh.

Chỉ định trong tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu –

  • Các bệnh lý tổn thương về cơ, xương, khớp sau chấn thương: Bầm tím, bong gân, trật khớp, gãy xương.
  • Viêm khớp dạng thấp mãn tính, viêm xương khớp, bệnh Bachterew, viêm bao hoạt dịch, viêm cơ.
  • Đau thần kinh ngoại biên, đau lưng thoát vị…
  • Rối loạn tuần hoàn: bệnh Raynaud, bệnh Buerger, bệnh Sudeck, phù dai dẳng.
  • Vết thương, vết loét, sẹo xấu, sẹo lồi.
  • Siêu âm hướng dẫn điều trị y tế và thẩm mỹ.
  • Dùng thuốc siêu âm: Dưới tác dụng của sóng siêu âm, tính thấm và khuếch tán của các ion qua màng bán thấm tăng lên.
  • Với sự trợ giúp của siêu âm, khí dung được tạo ra trong điều trị các bệnh về mũi, họng và đường hô hấp.

Chống chỉ định của siêu âm trong vật lý trị liệu

  • Các khu vực không được siêu âm: não, tủy sống, bộ phận sinh dục, thai nhi
  • Có kim loại hoặc vật rắn (đinh, vít, v.v.) trong khu vực điều trị.
  • Khối u (cả lành tính và ác tính)
  • Giãn tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch huyết khối, viêm tĩnh mạch huyết khối
  • Chảy máu và những vùng có nguy cơ chảy máu như tử cung khi hành kinh, chảy máu ổ bụng, vết thương mới, chấn thương do tụ máu…
  • Thuộc địa nhiễm vi khuẩn, vì điều này có thể khiến vi khuẩn lây lan
  • Giãn phế quản: không điều trị vùng đĩa đệm – ba
  • Ba ngày đầu mới bị thương.

3. Các phương pháp điều trị bằng siêu âm trong vật lý trị liệu

Siêu âm trực tiếp da kề da: Đặt đầu dò siêu âm tiếp xúc trực tiếp với da. Không khí có hệ số hấp thụ siêu âm rất cao, vì vậy chỉ cần một lớp không khí mỏng ngăn cách đầu dò với da để hấp thụ gần như hoàn toàn sóng siêu âm. Do đó, cần có một môi trường dẫn siêu âm giữa đầu dò và da.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Người ta thường dùng gel, dầu, mỡ khoáng… làm chất đệm giữa đầu phát siêu âm và da để loại bỏ lớp không khí giữa đầu phát và da. Kỹ thuật tiếp xúc trực tiếp đơn giản, dễ sử dụng và thường được sử dụng ở những vùng da tương đối bằng phẳng và dễ tiếp cận.

Sóng siêu âm qua nước: Nước là chất dẫn âm tốt, người ta thường dùng bể chứa nước sạch, nồi hơi hoặc bồn chứa có nhiệt độ phù hợp, thiết bị tẩy rửa và máy phát sóng siêu âm phải ngâm trong nước. Đầu siêu âm đặt vuông góc với bề mặt da vùng điều trị, cách bề mặt da khoảng 1-5cm.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Ưu điểm của sóng siêu âm gốc nước là sử dụng năng lượng sóng siêu âm nhưng kỹ thuật phức tạp hơn nên thường chỉ áp dụng trên những vùng điều trị không bằng phẳng, kỹ thuật tiếp xúc nhiều với trực tiếp như ngón tay, ngón chân, khớp cổ tay, khớp cổ chân.

Siêu âm dẫn truyền thuốc: Các vùng áp lực được tạo ra do tác động của sóng siêu âm, trong đó lưu thông máu của tổ chức thay đổi làm tăng tính thấm và khuếch tán dược chất qua màng sinh học.

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Chính vì vậy người ta trộn thuốc với mỡ hoặc dầu, chất này đóng vai trò trung gian giữa chất dẫn truyền và da. Do tác dụng của sóng siêu âm, thuốc được “ép” vào da tại vùng điều trị. Các loại thuốc thường được sử dụng là kem hydrocortisol, kem kháng sinh, kem profenide, salicylat…

4. Kỹ thuật chuẩn để phát huy tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu

Máy phát siêu âm cố định

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Đầu phát siêu cố định tại vùng điều trị. Kỹ thuật này thường được sử dụng cho các khu vực điều trị nhỏ. Chỉ sử dụng liều lượng siêu âm thấp; 0,3 W/cm2 ở chế độ siêu âm liên tục và liều 1 W/cm2 ở chế độ siêu âm xung. Siêu âm tại nhà sử dụng công nghệ cố định máy phát. Công nghệ siêu âm cố định dễ bị quá liều và gây tổn thương màng xương, sụn, đặc biệt khi sử dụng liệu pháp liều cao liên tục.

Máy phát siêu âm cầm tay

Đầu điều trị siêu âm không cố định mà di chuyển theo hình xoáy theo chiều dọc hoặc chiều ngang trên vùng điều trị. Tốc độ lái xe chậm và bộ phát phải luôn tiếp xúc với bề mặt da.

  • Với công nghệ di động của máy phát siêu âm, bạn có thể sử dụng công suất siêu âm trung bình là 1W/cm2 ở chế độ liên tục và 1-2W/cm2 ở chế độ xung. Có thể xử lý bề mặt lớn hơn, nhưng thời gian xử lý phải được tính theo bề mặt xử lý càng lớn thì thời gian cần thiết càng lâu.
  • Chế độ siêu âm và liều lượng điều trị Chế độ siêu âm liên tục: sóng siêu âm được lặp đi lặp lại liên tục với cường độ đều trong suốt thời gian điều trị. Chế độ siêu âm liên tục gây ra hiệu ứng nhiệt độ cao nên người ta thường phải sử dụng cường độ siêu âm thấp, hạn chế ảnh hưởng của các tác động cơ học và hóa học.

Chế độ siêu âm xung

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Siêu âm không lặp lại liên tục mà định kỳ trong quá trình điều trị. Do đó, năng lượng trung bình của sóng siêu âm theo thời gian là thấp. Ví dụ: xung 1:5 (1 giây với siêu âm, 5 giây không siêu âm) là liều trung bình chỉ bằng 20% ​​của chế độ liên tục. Xung 1:10, liều trung bình chỉ bằng 10% so với chế độ liên tục.

Ở chế độ siêu âm xung, cường độ siêu âm có thể cao, nhưng liều lượng trung bình nhỏ, do đó nhiệt độ tăng nhỏ và có thể phát huy tác dụng của các tác động cơ học và hóa học. Chế độ siêu âm xung được sử dụng rộng rãi trong điều trị hiện nay.

Liều điều trị của siêu âm

Tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu – Cường độ siêu âm là năng lượng sóng siêu âm đi qua 1 diện tích của môi trường (W/cm2), còn công suất siêu âm là tích của cường độ sóng siêu âm và diện tích bức xạ hiệu dụng. điều trị (W). Ví dụ khi bạn sử dụng cục phát có diện tích 1cm2, cường độ 1W/cm2 thì công suất là 1cm2 x 1W/cm2 = 1W. Nếu bạn dùng cục phát có diện tích 5cm2 và cường độ 1W/cm2 thì công suất phát ra là 5cm2 x 1W/cm2 = 5W.

Trên đây là những kiến thức về tác dụng của siêu âm trong vật lý trị liệu mà Phòng khám Health Center cung cấp. Các bạn có thể thăm khám trực tiếp tại Quảng Bình thông qua địa chỉ

  • Trụ sở chính: Thôn Vĩnh Phú Quảng Hòa TX Ba Đồn
  • Hoặc đặt lịch thông qua số điện thoại: 084.502.9815.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *